Trong khá nhiều bản dịch sách về lĩnh vực công nghệ hay tài chính mà mình đọc qua, mỗi lần nhắc đến từ “cryptocurrency” là hầu hết người dịch đều dịch thành “tiền điện tử”. Đối với những ai am hiểu về công nghệ blockchain và cryptocurrency, đây là một cách dùng không chuẩn.

Trước hết, chúng ta cần phân biệt 3 khái niệm:

  1. Digital currency (tiền điện tử/tiền số/tiền kỹ thuật số): cách thức thể hiện dưới dạng số hóa giá trị tiền pháp định của một quốc gia. VD: USD, EUR, VND,… Đồng tiền này được bảo đảm bởi ngân hàng trung ương của quốc gia đó hay các tổ chức tài chính chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương. Chẳng hạn tại Việt Nam, tiền bạn gửi trong ngân hàng, tiền trong thẻ tín dụng hay ví điện tử của bạn được gọi là tiền điện tử.
  2. Cryptocurrency (tiền mã hóa): từ ghép của mã hóa/mật mã (cryptography) với tiền tệ (currency). Đây là loại tiền được bảo mật bằng công nghệ blockchain – kỹ thuật mã hóa dựa trên cơ sở khai thác sức mạnh của máy tính kết hợp với Internet. Tiền mã hóa không phải là đồng tiền pháp định, không được phát hành hay bảo đảm bởi bất kỳ chính phủ hay ngân hàng trung ương nào. Tiền mã hóa hoạt động trong hệ sinh thái mở và có thể được chuyển đổi sang các dạng tiền tệ khác. Ví dụ các đồng tiền mã hóa được nhiều người biết đến là Bitcoin, Ethereum,…
  3. Virtual currency (tiền ảo): thuật ngữ này xuất hiện trước cả thuật ngữ “tiền mã hóa”, thường có trong các trò chơi điện tử. Tiền ảo được phát hành nội bộ bởi các tổ chức tư nhân và họ có toàn quyền kiểm soát đồng tiền này. Tiền ảo không được hoặc rất hạn chế trong việc quy đổi ra tiền pháp định và chỉ được quy đổi trong một cộng đồng nhỏ.

Hiện nay, nhiều người vẫn còn dùng lẫn lộn cả 3 khái niệm tiền điện tử, tiền mã hóa và tiền ảo. Đa số người dịch khi dịch từ “cryptocurrency” thường dịch là “tiền điện tử” hay “tiền ảo” vì thiếu kiến thức về lĩnh vực còn mới mẻ này. Nhưng đối với dân nghiên cứu và đầu tư crypto, cách dùng chính thống nhất được cộng đồng crypto ở Việt Nam chấp thuận là “tiền mã hóa”.

(Visited 11 times, 1 visits today)