Thông thường, cả hai từ well-beinghappiness khi đứng riêng lẻ thường được dịch theo nghĩa phổ biến là “hạnh phúc”. Tuy nhiên nếu trong một câu cùng xuất hiện cả hai từ này, nhất là trong văn cảnh về lĩnh vực Tâm lý học Tích cực, thì cần phân biệt hai từ này như thế nào?

Theo từ điển Cambrige:

  • Well-being: the state of feeling healthy and happy (trạng thái cảm thấy khỏe mạnh và vui vẻ)
  • Happiness: the feeling of being happy (cảm giác vui vẻ)

Theo một số từ điển Anh-Việt, cách dịch thông dụng của hai từ này như sau:

  • Well-being: tình trạng hạnh phúc, khỏe mạnh, thịnh vượng, sự sung túc
  • Happiness: hạnh phúc, sự sung sướng

Chúng ta thử xem qua hai ví dụ sau trích từ cuốn sách Flourish của Martin E. P. Seligman:

1. Flourish, his first book in ten years—and the first to present his dynamic new concept of what well-being really is. Traditionally, the goal of psychology has been to relieve human suffering, but the goal of the Positive Psychology movement, which Dr. Seligman has led for fifteen years, is different—it’s about actually raising the bar for the human condition.

(Phát triển mạnh mẽ, cuốn sách đầu tiên của ông ấy sau mười năm và là cuốn sách đầu tiên thể hiện quan niệm mới mẻ đầy năng động về việc hạnh phúc thật sự là gì. Theo truyền thống, mục đích của tâm lý học là giảm bớt đau khổ của con người, nhưng mục đích của phong trào Tâm lý học Tích cực mà Tiến sĩ Seligman đã lãnh đạo trong 15 năm, thì khác biệt – đó là thực sự cải thiện điều kiện sống của con người.)

Trong văn cảnh độc lập này, chỉ có duy nhất từ well-being xuất hiện thì chúng ta có thể dịch theo nghĩa là “hạnh phúc”.

2. While certainly a part of well-being, happiness alone doesn’t give life meaning. Seligman now asks, “What is it that enables you to cultivate your talents, to build deep, lasting relationships with others, to feel pleasure, and to contribute meaningfully to the world?”

(Trong khi hạnh phúc chắc chắn là một phần của sự viên mãn, chỉ riêng hạnh phúc không thôi thì không thể đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Seliman bây giờ đặt ra câu hỏi, “Điều gì cho phép bạn trau dồi tài năng của mình, xây dựng những mối quan hệ sâu sắc và kéo dài với người khác, cảm thấy vui vẻ, và đóng góp những điều ý nghĩa cho cuộc đời?”)

Ở ví dụ thứ hai, vốn dĩ là nội dung tiếp nối của ví dụ thứ nhất, trong câu xuất hiện đồng thời cả hai chữ well-beinghappiness, và tác giả đề cập khá rõ “While certainly [happiness is] a part of well-being”. Lúc này, chúng ta không thể dịch “Trong khi hạnh phúc chắc chắn là một phần của hạnh phúc”, cũng như không thể dịch “Trong khi hạnh phúc chắn chắn là một phần của sự khỏe mạnh/sự thịnh vượng/sự sung túc” được. Dù cho chọn nghĩa nào theo từ điển Anh-Việt nêu trên cho từ well-being, nghĩa của câu vẫn trúc trắc.

Theo Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng, trong trường hợp này, từ well-being nên dịch là “sự viên mãn” vì theo ý các tác giả [của đoạn trích trên] thì cấp độ của well-being bao gồm và cao hơn từ happiness. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua định nghĩa của từ điển Cambrige kể trên. Sự viên mãn trong cuộc sống bao hàm cả hai khía mạnh khỏe mạnh về thể xác lẫn vui vẻ, hạnh phúc về tinh thần. Đây là nghĩa phù hợp nhất khi chuyển ngữ từ well-being.

(Visited 25 times, 1 visits today)