Dấu phết có một tác dụng rất quan trọng trong Anh ngữ, vì có khi chỉ thiếu hoặc thêm một dấu phết mà ý nghĩa của cả một câu thay đổi hẳn. Trước hết, công dụng đầu tiên của dấu phết là để ngăn chia những đơn vị trong câu. Thí dụ:

  • Birds, dogs, horses are animals.

Trong trường hợp có ba hoặc hơn ba đơn vị nối tiếp mà chỉ có một liên từ thì người ta phải dùng dấu phết sau mỗi đơn vị trừ đơn vị chót. Thí dụ:

  • Blue, white, and red are the colors of France.

Dấu phết này thường được gọi là dấu phết “tiếp nối”. Anh ngữ gọi là “serial comma”. Nhưng các bạn nên chú ý là trong trường hợp tên các công ty thương mại thì cái dấu phết chót, tức là dấu phết trước liên từ and lại thường được bỏ đi. Thí dụ người ta viết “Brown, Shipley and Co” chứ không viết “Brown, Shipley, and Co”.

Dấu phết cũng dùng để ngăn những tiếng hoặc nhóm tiếng “chêm đệm” (parenthetic) với những đơn vị khác trong câu. Thí dụ:

  • Her husband, Colonel Thompson, paid us a visit yesterday.
  • My brother, you will be surprised to hear, its now in perfect heath.

Trong câu đối thoại trực tiếp (direct address), tên người hoặc chức vụ mà mình gọi người đối thoại với mình, cũng là những tiếng “chêm đệm” và phải được ngăn ra bằng dấu phết. Thí dụ:

  • If, Sir, you refuse, I cannot predict what will happen.
  • Well, Susan, this is the prettiest dress I have ever seen.

Những mệnh đề liên quan không chỉ định (non defining relative clause) hoặc những mệnh đề tương tự được dẫn đầu bằng liên từ chỉ thời gian hoặc không gian cũng là những ý kiến chêm đệm cần có dấu phết ngăn ra. Thí dụ:

  • The audience, which had at first been indifferent, because more and more interested.
    (Cử tọa, lúc đầu lãnh đạm, sau mỗi lúc một chú ý hơn).
  • In 1769, when Napoleon was born, Corsica had but recently acquired by France.
    (Năm 1769, khi Nã Phá Luân ra đời, thì đảo Corse chỉ mới được xáp nhập với Pháp Quốc.)
  • This window, which was broken by a boy yesterday, will have to be repaired.
    (Cái cửa sổ này, bị một học sinh làm vỡ hôm qua, sẽ phải được sửa chữa lại).
  • Binh Dương, where I was born, is not far from Saigon.
    (Bình Dương, nơi tôi sinh ra, ở cách Sài Gòn không xa).

Trong những câu trên đây, các mệnh đề mở đầu bằng which, whenwhere đều là những mệnh đề tính từ không chỉ định, tức là không thiết yếu cho nghĩa của câu, mà chỉ là những ý kiến chêm đệm, có thể bỏ đi mà câu vẫn không mất nghĩa của nó. Mỗi câu trên đây, do đó, có thể viết lại thành câu riêng biệt:

  • The audience was at first indiferent. Later it became more and more interested.
  • Napoleon was born in 1769. At that time Corsica had but recently been acquired by France.
  • This window will have to be repaired. It was broken by a boy yesterday.
  • Binh Duong is not far from Saigon. I was born there.

Ngược lại, những mệnh đề liên quan chỉ định (defining relative clauses), tức là cần thiết cho ý nghĩa của câu, không phải là một đơn vị chêm đệm, và không được đặt đứng riêng biệt bằng dấu phết. Thí dụ:

  • The boy who broke the window yesterday will be punished.
    (Đứa bé làm vỡ cửa sổ hôm qua sẽ bị trừng phạt)
  • People who smoke lose their money and ruin their health.
    (Những người hút thuốc vừa mất tiền vừa làm hại sức khỏe của mình.)
  • The house that stands near the river belongs to my father.
    (Cái nhà ở gần sông là của ba tôi.)

Trong những câu trên đây, những mệnh đề mở đầu bằng who và that đều có công dụng thiết yếu cho nghĩa của câu và cho ta biết đó là đứa trẻ nào, cái nhà nào. Đó không phải là những ý kiến chêm đệm, và những câu trên đây không thể viết ra làm hai câu riêng biệt được.

Trong trường hợp một câu có hai mệnh đề độc lập nối tiếp nhau, mà cả hai mệnh đề đều ngăn và có một hình thức giống nhau, thì người ta không cần dùng chấm phết mà có thể dùng một dấu phết cũng đủ rồi. Thí dụ:

  • Man, proposes, God disposes.
  • The door swung open, the light went out.
  • Here today, gone tomorrow.

Ngoài ra, chúng ta đừng bao giờ dùng dấu chấm thay cho dấu phết, nói một cách khác là đừng bao giờ cắt một câu thành hai trong khi câu đó phải viết làm một. Thí dụ:

  • I met them on a liner several years ago. Coming home from Europe.
  • He was an interesting talker. A man who had traveled all over the world and lived in a doxen countries.

Trong cả hai thí dụ trên đây, dấu chấm phải được thay thế bằng dấu phết và chữ theo sau đó không viết hoa.

Một trong những lỗi lầm căn bản của chúng ta khi viết Anh ngữ là trước những liên từ đóng vai trạng từ (conjunctive adverb) như therefore, however, soon the other hand, chúng ta thường chỉ dùng dấu phết trong khi phải dùng dấu chấm phết mới đúng. Thí dụ:

  • The question was not discussed, so there is nothing to be done in this matter.
    (Vấn đề đã không được thảo luận, do đó sự việc đành phải để như thế.)
  • He was not involved in the crime, on the other hand, he did nothing to prevent it.
    (Hắn không dính dáng gì tới tội ác đó, mặt khác hắn cũng không làm gì để ngăn chặn nó).
  • I had nothing to do, so I got into a bus and was driven to the club.
    (Tôi không có việc gì để làm, do đó tôi nhảy lên một chiếc xe buýt để tới câu lạc bộ.)
  • He began to feel tired of living in Saigon, so he applied for a transfer to Can Tho.
    (Hắn bắt đầu thấy chán sống ở Saigon, do đó hắn xin đổi đi Cần Thơ).

Trong tất cả những câu trên đây, thay vì dấu phết ở trước chữ so cũng như nhóm tiếng on the other hand, chúng ta phải dùng dấu chấm phết mới đúng. Các bạn nhận thấy rằng trong những câu dịch Việt ngữ, trước chữ “do đó” chúng ta chỉ dùng dấu phết cũng đủ rồi, vì Việt ngữ có phần “dễ dãi” hơn Anh ngữ nhiều. Thật ra thì trong những trường hợp như trên, Việt ngữ ít khi dùng tới chấm phết, tuy rằng nếu dùng chấm phết thì cũng không có gì là sai, chỉ có vẻ quá cẩn thận một tí.

Trần Nhã

(Visited 8 times, 1 visits today)